NỘI DUNG THI CÔNG PHÒNG CHỐNG MỐI CÔNG TRÌNH QUY MÔ LỚN:

THI CÔNG PHÒNG CHỐNG MỐI CÔNG TRÌNH QUY MÔ LỚN:

NỘI DUNG THI CÔNG PHÒNG CHỐNG MỐI CÔNG TRÌNH QUY MÔ LỚN:

1. Phòng chống mối bằng phương pháp kết hợp:

(Biện pháp này phòng chống mối hiệu quả và bền vững hơn so với biện pháp phòng chống mối bằng thuốc).

Là việc sử dụng một số vật liệu xây dựng theo quy định của tiêu chuẩn cùng với việc xử lý gia cố trong thi công xây dựng kết hợp dùng thuốc phòng chống mối để bảo vệ các kết cấu vật liệu xenlulo của công trình:

1.1. Quy định chung:

- Khi thi công móng và nền phải lấy hết các tấm ván khuôn, không để sót lại các mảnh vụn ván khuôn hoặc gỗ vụn, mùn cưa, dăm bào, giấy, vỏ bao xi măng xung quanh móng, mặt nền, các khe lún hoặc khe co giãn của chân tường. Các khe giữa các tường đôi hoặc cột đôi của hai đơn nguyên, nếu đổ bê tông tại chỗ phải dùng các vật liệu không có chứa chất xenlulo để chèn, phòng khi không lấy ra được sẽ tạo nơi trú ngụ và đường đi của mối thâm nhập lên các tầng. Nếu dùng ván gỗ để chèn thì phải xử lý ngâm tẩm thuốc phòng chống mối trước khi dùng.

- Khi dùng gỗ, tre làm kết cấu chịu lực hoặc làm các bộ phận trang trí, làm cửa và khung cửa, các bộ phận đó phải được xử lý (ngâm, tẩm, phun, quét) thuốc phòng chống mối hoặc thuốc bảo quản lâm sản. Nếu là gỗ thuộc nhóm cần xử lý bảo quản (xem Phụ lục B- TCVN 7958 : 2008) thì thành phẩm sau khi gia công phải được xử lý phòng chống mối hoặc thuốc bảo quản lâm sản trước khi dùng sơn hoặc vecsni. Trường hợp có cắt, gọt, gia công thêm thì các bộ phận đó phải được xử lý bổ sung. Nếu gỗ thuộc nhóm không cần xử lý bảo quản (xem Phụ lục B), nhưng có lẫn gỗ dác thì phải xử lý như gỗ thuộc nhóm cần xử lý bảo quản. Trong trường hợp gỗ thuộc nhóm không cần xử lý bảo quản nhưng dùng ở những nơi ẩm ướt cũng phải được xử lý bảo quản.

1.2. Đối với công trình loại C:

Ngoài yêu cầu theo Quy định chung (nêu tại mục 1.1.), trên toàn bộ mặt tường móng và toàn bộ mặt nền nhà (tức là gạch vỡ đầm chặt, dưới lớp vữa lát nền nhà tầng trệt hoặc tầng hầm nếu có) phải trải kín đều một lớp vữa có cường độ không nhỏ hơn mac100 với chiều dày không nhỏ hơn 30 mm; Đồng thời phải trát một khoảng cao từ mặt nền nhà tới bậu cửa bằng lớp xi măng cát vàng phía bên trong và bên ngoài tường để chống mối làm đường mui đi bên trong tường.

1.3. Đối với các công trình loại B:

Phải đáp ứng các yêu cầu nêu ở mục mục 1.1., 1.2 và các yêu cầu bổ sung như sau:

- Toàn bộ mặt tường móng và toàn bộ mặt nền nhà phải tăng cường thêm một lớp bê tông đá dăm có cường độ không nhỏ hơn mac 200, với chiều dày không nhỏ hơn 70mm trải kín đều trên lớp xi măng cát vàng đã nêu trên.

- Những nơi có đường cáp hoặc đường kỹ thuật ngầm đi lên mặt nền phải đặt trong đoạn ống cứng, bên trong đoạn ống cứng đó phải kín bằng vữa bi tum nóng. Khi thi công nền tầng trệt hoặc tầng hầm nếu có, phải đảm bảo chèn vữa bê tông kín khắp xung quanh các loại đường ống đi qua nền.

- Tại các chân khung cửa của tầng trệt, khi chôn xuống đất nền phải đảm bảo có lớp bê tông bao kín xung quanh và bên dưới chân khung cho tới cos 0,0m của mặt nền, với chiều dày của lớp đó không nhỏ hơn 50 mm. Trường hợp có điều kiện nên sử dụng bằng cốc thép không rỉ có chiều dày tối thiểu 1mm, chiều cao bẳng khoảng chân khung chôn xuống mặt nền nhà và được chèn kín bằng vữa xây sau khi định vị khung cửa.

1.4. Đối với các công trình loại A:

Phải đáp ứng các yêu cầu nêu ở mục mục 1.1., 1.2, 1.3 và các yêu cầu sau:

- Đối với loại nhà sàn có tầng chân cột để trống hoàn toàn, tầng chân cột phải thông thoáng kể từ mặt nền xi măng cát vàng đến mặt dưới của kết cấu sàn không nhỏ hơn 0,8m để có thể tới kiểm tra mọi điểm dưới nền nhà. Trong trường hợp có điều kiện nên làm chiều cao tầng chân cột từ 1,7 m đến 3 m để có thể tới kiểm tra dễ dàng hơn.

- Trong các trường hợp không thể làm sàn trống chân cột, mà phải sử dụng tầng trệt, cũng như trường hợp phải thiết kế sử dụng tầng hầm, thì phải tăng cường lớp bê tông cốt đá ganit với chiều dày đồng đều 70 mm cho toàn bộ sàn tầng trệt, hoặc cho toàn bộ sàn tầng hầm và tường hầm (phần chìm dưới mặt đất có kết cấu bên ngoài tiếp xúc với đất nền, khi có sử dụng một hoặc nhiều tầng hầm) .

- Lớp trát mặt trong tầng hầm, cũng như lớp trát mặt trong và mặt ngoài tầng trệt phải dùng vữa xi măng cát vàng có cường độ không nhỏ hơn max 50.

- Với các công trình đặc biệt quan trọng khi có sử dụng tầng hầm, nên bố trí thêm lớp thép không rỉ, hoặc lớp đồng giữa lớp lót bê tông cát vàng với lớp bê tông đá granit. Chiều dày của lớp thép hoặc đồng không nhỏ hơn 0,5 mm. Các chỗ nối của các tấm phải được hàn kín đảm bảo vừa ngăn chặn mối vừa chống thấm cho các tầng hầm

- Tại các chân cột, phải đặt các mũ chụp hình khay úp bằng thép không rỉ để ngăn mối, với chiều dày tối thiểu 0,5 mm hoặc bằng đồng dày tối thiểu 0,4 mm ở độ cao thích hợp cách mặt nền hoàn thiện tầng trệt hoặc tầng hầm nếu có, tối thiểu la 75 mm. Đồng thời trên toàn bộ mặt móng và các cột bổ trụ cũng phải đặt dải băng thép có độ dày, tiết diện có độ cao như đối với mũ chụp cho cột. Dải băng thép phải liên tục, tại các chỗ nối phải được hàn kín.

Chú ý:

- Khi thi công các phần việc phòng chống mối bằng phương pháp kết hợp, chủ đầu tư xây dựng công trình có thể giao cho các nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhưng phải có thiết kế phòng chống mối được phê duyệt, có hợp đồng, có giám định từng phần và có biên bản nghiệm thu, đặc biệt ở các phần khuất kín.

- Thiết kế phòng chống mối bằng phương pháp kết hợp phải do các đơn vị Tư vấn thiết kế xây dựng công trình thực hiện thiết kế cùng với hồ sơ dự án, hồ sơ Thiết kế kỹ thuật thi công.

- Các công trình có thể bố trí hệ thống lưới thép không rỉ ngăn mối. Lớp thép phải tiếp giáp với các tường móng, các cột, sợi thép đan với đường kính tối thiểu la 0,18mm, cỡ lớn tối đa của mắt lưới 0,66 mm x 0,45 mm (Cách sử dụng tham khảo Phụ lục C - TCVN 7958 : 2008).